Thứ Ba, 19 tháng 10, 2010

THÔNG BÁO KẾT LUẬN CỦA GIÁM ĐỐC ĐHQGHN VỀ BUỔI LÀM VIỆC GIỮA ĐHQGHN VỚI CN ĐỖ BÁ LỘC NGUYÊN GIÁO VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐHQGHN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI           CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                                                                           Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
         Số  3133 /KHCN

Hà Nội,   ngày 17   tháng  8   năm 2007



THÔNG BÁO 
KẾT LUẬN CỦA GIÁM ĐỐC ĐHQGHN  
VỀ BUỔI LÀM VIỆC GIỮ A ĐHQGHN VỚI CN ĐỖ BÁ LỘC 
NGUYÊN GIÁO VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐHQGHN 

Ngày 02 tháng 8 năm 2004, GS.TSKH. Vũ Minh Giang Phó Giám đốc ĐHQGHN  đã có buổi làm việc với cử nhân Ngôn ngữ học Đỗ Bá Lộc  để trao đổi về  những ý kiến được nêu trong thư gửi Giám đốc ĐHQGHN, liên quan đến đề tài nghiên cứu khoa học “Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học môn cơ sở văn hoá Việt Nam tại trường Đại học Ngoại ngữ- ĐHQGHN “, mã số QN.02.02 và đề tài QG.05.41 do TS. Chu Thị Thanh Tâm, Bộ môn Cơ sở Văn hoá  Việt Nam - Trường Đại học Ngoại ngữ làm chủ nhiệm.
Cùng dự buổi làm việc của GS.TSKH. Vũ Minh Giang với CN. Đỗ Bá Lộc có 
1.TSKH. Nguyễn Đình Đức, Trưởng Ban KHCN – ĐHQGHN 
2.ThS. Lê Nữ Quỳnh Nga, chuyên viên Ban KHCN – ĐHQGHN 
3. ThS. Vũ Thị Mai Phương, chuyên viên Ban KHCN – ĐHQGHN

Để chuẩn bị cho buổi làm việc này, GS. Vũ Minh Giang đã chỉ đạo Ban KHCN tập hợp đầy đủ các tài liệu liên quan đến quy trình thành lập, tiến hành và tổ chức nghiệm thu đề tài QN.02.02 và Quy trình thành lập, bổ nhiệm chủ trì đề tài QG.05.41.

Trong buổi làm việc diễn ra trong 3 tiếng đồng hồ (từ 9g00 đến 12g00), GS. Vũ Minh Giang đã dành trọn 90 phút để nghe CN. Đỗ Bá Lộc trình bày những vấn đề liên quan đến TS. Chu Thị Thanh Tâm (Toàn bộ ý kiến của CN. Đỗ Bá Lộc được ghi âm và có biên bản đầy đủ). Sau khi trình bày, CN. Đỗ Bá Lộc đề nghị ĐHQGHN:

- Xem xét lại tư cách đạo đức và năng lực khoa học của TS. Chu Thị Thanh Tâm.
- Ra Quyết định huỷ bỏ kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài QN.02.02.
- Ra Quyết định huỷ đề tài QG.05.41 hiện TS. Chu Thị Thanh Tâm đang làm chủ nhiệm.

Sau khi nghe Trưởng Ban KHCN trình bày về toàn bộ qui trình và những cơ sở cho việc nghiệm thu đề tài QN.02.02 và giao đề tài QG.05.41, GS. Vũ Minh Giang phân tích tất cả những thông tin có được và trao đổi cởi mở, thẳng thắn với CN. Đỗ Bá Lộc và  kết luận như sau:

1. Trong buổi làm việc hôm nay, ĐHQGHN ghi nhận những ý kiến của CN. Đỗ Bá Lộc, tuy nhiên không thể đánh giá TS. Chu Thị Thanh Tâm về mặt tư cách đạo đức cũng như năng lực khoa học nói chung, mà chỉ tập trung xem xét qui trình quản lý các đề tài KHCN do TS. Chu Thị Thanh Tâm đã và đang làm chủ nhiệm.

2. Về việc nghiệm thu đề tài QN.02.02 do TS. Chu Thị Thanh Tâm làm chủ nhiệm: đây là đề tài cấp ĐHQGHN giao cho đơn vị quản lý, được thành lập theo đúng qui trình và các văn bản pháp qui hiện hành, được nghiệm thu theo Quyết định số 174/KHCN ngày 21/6/ 2004 của Giám đốc ĐHQGHN. Hội đồng do PGS.TS. Trần Hữu Luyến, Phó Hiệu trưởng phụ trách khoa học làm Chủ tịch Hội đồng, PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài Nhân, Phó Trưởng phòng NCKH làm thư ký, GS. Trần Quốc Vượng làm uỷ viên phản biện 1, PGS.TS. Nguyễn Lân Trung làm uỷ viên nhận xét 2 và TS. Nguyễn Thị Phương làm uỷ viên. Đây là một hội đồng khoa học hoàn toàn  phù hợp với quy trình quản lý KHCN của ĐHQGHN tại thời điểm năm 2004. Hội đồng đã họp ngày  14/9/2004 và đề tài được đánh giá đạt loại tốt. 

Mặc dù thừa nhận rằng qui trình thành lập và tổ chức nghiệm thu đề tài QN.02.02 là hoàn toàn đúng đắn nhưng CN. Đỗ Bá Lộc không đồng ý với ý kiến của 2 uỷ viên phản biện và vì vậy không đồng ý với kết luận đánh giá của Hội đồng nghiệm thu. CN. Đỗ Bá Lộc còn nêu ý kiến nghi vấn tính xác thực của văn bản nhận xét của GS. Trần Quốc Vượng. 

GS. Vũ Minh Giang đã kết luận: ĐHQGHN quản lý hoạt động KHCN bằng qui trình theo các văn bản pháp qui. Chất lượng chuyên môn của các hoạt động khoa học và kết quả công trình, ĐHQGHN dựa vào kết luận đánh giá của các chuyên gia, phát biểu có trách nhiệm với tư cách là thành viên các Hội đồng nghiệm thu. Những ý kiến của CN. Đỗ Bá Lộc chưa đủ cơ sở để phủ nhận ý kiến của hai phản biện cũng như kết luận của Hội đồng nghiệm thu. Vì vậy ĐHQGHN không có cơ sở pháp lý để ra quyết định huỷ bỏ kết quả của đề tài QN.02.02 như yêu cầu của CN. Đỗ Bá Lộc. Tuy nhiên, ý kiến nghi ngờ tính xác thực của văn bản nhận xét của cố GS. Trần Quốc Vượng là vấn đề rất hệ trọng. Nếu CN. Đỗ Bá Lộc tìm được chứng cớ để khẳng định ý kiến của mình, ĐHQGHN sẽ có biện pháp xử lý thích đáng theo đúng pháp luật hiện hành.

3.  Đề tài QG.05.41 do TS. Chu Thị Thanh Tâm chủ trì được Giám đốc ĐHQGHN ra quyết định phê duyệt theo quyết định số 73/KHCN ngày 23/3/2005, và chuyển kinh phí về trường ĐHNN để quản lý.

Đề tài đã được Hội đồng ngành/liên ngành Ngôn ngữ-Ngoại ngữ thông qua, cho hoàn chỉnh lại Đề cương. Đề cương đã được Chủ tịch Hội đồng ngành là GS. Đinh Văn Đức đề nghị 2 chuyên gia là Ông Nguyễn Hữu Cầu, chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Trung Quốc- Trường ĐHNN và GS.TS. Lê Quang Thiêm, Khoa Ngôn ngữ - Trường Đại học KHXH&NV xem xét và cho ý kiến và Ông chủ tịch Hội đồng ngành GS.TS. Đinh Văn Đức là người cuối cùng xem lại và đề nghị ĐHQGHN phê duyệt. 

Sau khi ĐHQGHN phê duyệt, trường ĐHNN đã cẩn thận, thành lập Hội đồng chuyên môn để góp ý hoàn chỉnh đề cương 1 lần nữa (vì với các đề tài đặc biệt không đòi hỏi quy trình này), Hội đồng do PGS. Trần Hữu Luyến làm Chủ tịch, GS. Lê Quang Thiêm và TS. Võ Đại Quang làm uỷ viên nhận xét, CN. Đỗ Bá Lộc có tham gia Hội đồng (các ý kiến nhận xét đánh giá của Hội đồng đều bằng văn bản).

Như vậy, việc tuyển chọn, phê duyệt và quản lý đề tài do TS. Chu Thị Thanh Tâm – trường ĐHNN chủ trì được thực hiện theo  quy trình quản lý hiện hành. CN. Đỗ Bá Lộc không thắc mắc gì về qui trình nhưng cho rằng TS. Chu Thị Thanh Tâm không đủ tư cách nhận đề tài và cảnh báo nếu TS. Tâm thực hiện đề tài này thì sẽ có những điều phức tạp xảy ra sau này. GS. Vũ Minh Giang ghi nhận tất cả những lưu ý của CN. Đỗ Bá Lộc, nhưng khẳng định việc xét duyệt, thành lập và bổ nhiệm chủ nhiệm đề tài là hoàn toàn đúng với những qui trình và văn bản quản lý hiện hành. Không đủ cơ sở để phủ nhận ý kiến của Hội đồng liên ngành và vì vậy, ĐHQGHN không có cơ sở pháp lý để ra quyết định đình chỉ hoạt động của đề tài QG.05.41 do TS. Chu Thị Thanh Tâm chủ trì như đề nghị của CN. Đỗ Bá Lộc.

Buổi làm việc kết thúc vào hồi 12h00 cùng ngày.

TL. GIÁM ĐỐC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỞNG BAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
(đã ký)
TSKH. Nguyễn Đình Đức

Nơi nhận:
- GĐ, PGĐ Vũ Minh Giang (để báo cáo)
- Ông Đỗ Bá Lộc (để thông báo)
- Trường ĐHNN (để biết)                                               
- Lưu VP, Ban KHCN


Bản công văn gốc mà ông Lộc cũng được nhận






Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010

Đỗ Bá Lộc là ai?



Thưa các bạn đọc trên mạng, tôi là Chu Thị Thanh Tâm, hiện công tác tại Bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội – người đã bị bêu xấu bởi hàng loạt các bài viết đứng tên khác nhau nhưng thực chất chỉ là của một người trong khoảng 5 năm nay. Nếu bạn đọc là đồng nghiệp của tôi, cùng cơ quan với tôi hoặc bạn bè quen biết tôi chắc sẽ không cần giải thích gì nhưng giờ đây Đỗ Bá Lộc – tên thật của hàng loạt các bài viết đã không chỉ dừng ở việc vu cáo, bôi nhọ riêng tôi mà còn điên cuồng thóa mạ tất cả những ai liên quan đến tôi, bất kể sự đúng sai, bất kể đối với các giáo sư danh tiếng, các nhà chức trách, với cả chính thày dạy của mình.

Thời gian qua tôi không muốn mất thì giờ để đáp lại vì nghĩ mọi người đều đã biết ông ta là ai và tôi cũng như nhiều người đã quen chịu đựng cách nói năng và hành xử kiểu đó của Đỗ Bá Lộc với nhiều đồng nghiệp khác. Đôi lúc tôi còn động lòng thương vì thấy ông ấy có biểu hiện của người mắc bệnh tâm thần. Thêm nữa, gần đây tôi không có thiện cảm với một số bài viết mang tính chất chửi nhau (không phải tranh luận) trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo viết, báo điện tử và đặc biệt trên mạng cho dù có người đúng kẻ sai, những người được gọi là trí thức. Nhưng đến nay, kênh thông tin trên mạng là tự do, bạn đọc không còn chỉ là đồng nghiệp của tôi, trong ngành của tôi và thậm chí không phải chỉ là người Việt Nam mà còn nhiều bạn bè ở khắp thế giới, sinh viên nước ngoài do tôi dạy họ tiếng Việt và văn hóa Việt. Bởi vậy sự im lặng của tôi rất có thể gây ra nhiều hiểu lầm, khiến không ít người nghĩ bây giờ các giá trị bị đảo lộn, trắng đen lẫn lộn, gây mất niềm tin trong cuộc sống.

Vậy Đỗ Bá Lộc là ai và tại sao lại liên tục tung lên mạng những bài viết nhằm vào tôi và những ai liên quan đến tôi trong suốt 5 năm qua?

Thưa bạn đọc, Đỗ Bá Lộc sinh năm 1947 (còn có chỗ tự khai là năm 1949 – riêng việc này cũng gây không ít khó khăn cho Tổ chức khi giải quyết chế độ về hưu cho ông ta). Tôi biết Đỗ Bá Lộc từ năm 1990 khi về Bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam của trường công tác. Trong buổi họp đầu tiên tôi đã chứng kiến Bộ môn có 10 người thì 9 người đã lên tiếng phản đối tính độc đoán trong quản lý và thiếu minh bạch về tài chính trong thời gian ông ta làm Quyền Chủ nhiệm Bộ môn. Có một đồng nghiệp nam hết sức tức giận còn chỉ tay vào mặt Đỗ Bá Lộc nói: “Đồ ăn bẩn!”. Ngay sau đó Bộ môn bầu Chủ nhiệm mới là chị TS. Nguyễn Thị Phương. Do Bộ môn bầu lên nhưng chị Phương ngay lập tức bị Đỗ Bá Lộc nói trước toàn thể đồng nghiệp trong Bộ môn: “Mày cướp cơm chim của con tao!”. Sau đó chúng tôi còn chứng kiến nhiều cuộc cãi vã và xỉ nhục nhau mà người “chủ trì” bao giờ cũng là Đỗ Bá Lộc.

Khi Tiến sỹ Nguyễn Thị Phương hết hai nhiệm kỳ làm Chủ nhiệm Bộ môn ( Bộ môn trực thuộc trường – tương đương cấp Khoa) thì Bộ môn tôi rơi vào tình trạng khó khăn: ai sẽ là người thay TS Phương lãnh đạo đơn vị. Thời điểm này (năm 2000) BM tôi đã có 2 Tiến sỹ mới là tôi (bảo vệ luận án năm 1996) và Lê Thị Tuyết Hạnh (Bảo vệ năm 1997). TS Hạnh vừa mới sinh con, còn tôi cũng từ chối khi được đặt vấn đề làm Chủ nhiệm Bộ môn. Lý do chính mà tôi không dám nhận là vì biết Đỗ Bá Lộc rất muốn làm và nếu tôi mà làm Chủ nhiệm Bộ môn thì chắc phải hy sinh quá nhiều thứ do Đỗ Bá Lộc gây ra. Không còn sự lựa chọn nào nữa, chính tay tôi cũng đã bỏ phiếu bầu Đỗ Bá Lộc làm Chủ nhiệm Bộ môn. Nhà trường cũng đã rất đắn đo khi ra quyết định bổ nhiệm. Lại một lần nữa tôi và một đồng nghiệp làm Trưởng ban Nữ công của trường gặp riêng Hiệu trưởng và cố gắng thuyết phục để Nhà trường chấp thuận sự lựa chọn của chúng tôi. Thế là, chính thức năm 2000, Đỗ Bá Lộc làm Chủ nhiệm Bộ môn nhiệm kỳ 2000-2005. Chỉ sau khoảng hơn một tháng Đỗ Bá Lộc nhận chức, tôi và TS Hạnh là người nằm trong mục tiêu “tiêu diệt”, bằng cách:

-          Ngăn chặn không cho nhận Đề tài nghiên cứu
-          Phân công dạy các lớp không cần đến trình độ tiến sỹ (thời điểm này trường tôi tất cả mới có 11 tiến sỹ)
-          Không phân công dạy ngôn ngữ - môn học thuộc chuyên ngành của tôi và thuộc đề tài Luận án của tôi.

Do chuyên tâm dạy một môn Cơ sở Văn hóa Việt Nam từ đầu (năm 1990) và có nhiều đóng góp cho môn học mới nên khi thành lập Đại học Đại cương GS Trần Quốc Vượng đã chọn tôi làm Phó trưởng môn cho ông, phụ trách giảng dạy môn học này ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Riêng việc này, Đỗ Bá Lộc đã gặp GS Trần Quốc Vượng nhiều lần để có ý gạt tôi ra khỏi vị trí đó.

Đến năm 2005, hết một nhiệm kỳ quản lý của Đỗ Bá Lộc, Bộ môn chúng tôi bầu lại Chủ nhiệm Bộ môn, kết quả là Nhà trường bổ nhiệm tôi làm Trưởng Bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam nhiệm kỳ 2005 – 2010. Việc bàn giao các công việc Quản lý từ người tiền nhiệm Đỗ Bá Lộc gây cho tôi không ít khó khăn. Trong văn bản thì phải bàn giao chìa khóa các tủ tài liệu đựng bài thi của sinh viên và tủ đựng văn phòng phẩm nhưng thực tế Đỗ Bá Lộc đã bí mật giữ lại, không bàn giao hết. Ai cũng biết nếu tôi làm quản lý mà để mất bài thi hoặc lộ đề thi thì sẽ chịu hình thức kỷ luật rất cao. May mắn tôi phát hiện kịp thời và cho lập biên bản. Đỗ Bá Lộc bị bắt quả tang vụ này đã lồng lộn lên như một con thú. Cũng trong khoảng thời gian này, tôi đã xuất bản theo hình thức liên kết cuốn sách ‘ Đổi mới phương pháp dạy-học môn Cơ sở văn hóa Việt Nam’, nội dung cơ bản thuộc đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia của tôi đăng ký năm 2002. Trong quá trình làm thủ tục nhận đề tài tôi không hề có bất cứ liên hệ nào với GS Vũ Minh Giang vì như mọi người biết tháng 9 năm 2003 GS Vũ Minh Giang mới được Bổ nhiệm Phó Giám đốc ĐHQG, phụ trách mảng khoa học công nghệ và bây giờ là người phải giải quyết hậu vụ việc kiện tụng của Đỗ Bá Lộc (theo chữ dùng của Đỗ Bá Lộc gọi GS Vũ Minh Giang là ‘bảo kê’). Trong quá trình tôi làm đề tài về Văn hóa Việt Nam thì Đỗ Bá Lộc cũng ký kết đề tài về môn học này với Phòng Đào tạo của trường, nhưng quá hạn 4 năm vẫn chưa được nghiệm thu. Từ lúc tôi công bố cuốn sách ‘đổi mới phương pháp dạy – học môn Cơ sở văn hóa Việt Nam’, Đỗ Bá Lộc bắt đầu xúc tiến kiện tụng, đặt hàng đăng bài bêu riếu tôi trên các phương tiện thông tin đại chúng, sau đó photo hàng loạt đưa đến tận tay sinh viên bắt đọc hoặc nhét qua khe cửa của nhà các giảng viên trong trường và thưa bạn đọc, ông ta còn photocopy gửi đến cho mẹ chồng tôi nữa. Bằng con đường hành chính là kiện tụng, bằng con đường gây dư luận là viết báo, gửi bài đến cho mẹ chồng tôi, đánh vào đời sống gia đình, nơi trụ ngụ cuối cùng của người phụ nữ, bên cạnh đó là thời s tuyên chiến và bêu riếu thóa mạ tất cả những ai không ủng hộ việc làm của ông ta. Bằng tất cả cách đó ông ta muốn phong tỏa và triệt phá mọi con đường của tôi: cả sự nghiệp lẫn đời sống tình cảm. Biết được tất cả các hành vi điên cuồng đó của Đỗ Bá Lộc, nhiều bè bạn gần xa có phần cám cảnh đều thực tâm hỏi tôi ‘em đã làm gì để nó thù đến như vậy?’. Tôi suy nghĩ nhiều lắm và tự kiểm điểm bản thân một cách thực nghiêm khắc mong tìm được đúng nguyên nhân để sớm giải quyết được chuyện thị phi đến mức nổi tiếng này. Như bạn đọc thấy, trong suốt 5 năm qua, chỉ có duy nhất một bài của báo Pháp luật và Đời sống đăng dưới dạng Hỏi- Đáp câu trả lời của tôi, còn lại tất cả như bạn đọc biết Đỗ Bá Lộc đã  tung hoành, thả sức xúc phạm đến tôi. Nếu vẫn chỉ chửi bới riêng tôi, xúc phạm riêng tôi, có lẽ tôi vẫn chịu đựng được mặc dù tôi là một phụ nữ. Cách chịu đựng của tôi là luôn cố gắng hoàn thiện bản thân mình hơn nữa trong mọi lĩnh vực chừng nào có thể. Tôi coi đó là một loại Strees tích cực. Nhưng như ở trên tôi đã nói, Đỗ Bá Lộc đã không dừng việc thóa mạ tôi mà còn xúc phạm đến nhiều Giáo sư, Nhà giáo ưu tú, Nhà lãnh đạo có uy tín như cố Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng, Giáo sư Ngôn ngữ học Hoàng Trọng Phiến, Giáo sư Vũ Minh Giang, hiện là Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội chỉ vì không thể chấp nhận những hành vi không chính đáng của ông ta. Để nhận xét về một con người, đã từng là đồng nghiệp của tôi, về tuổi tác thì như người anh của tôi, xét về lý và tình sau một khoảng thời gian khá dài (từ năm 1990 đến nay, năm 2009), tôi xin hạ bút để giải thích cho câu hỏi của bạn bè bấy lâu nay và bạn đọc trên mạng về nguyên nhân chính dẫn đến sự tình rầm rộ nhất từ năm 2005 đến nay như sau:

1.      Mong muốn độc quyền quản lý Bộ môn và ngăn chặn tôi không thành vì sự kiện tôi được bầu và bổ nhiệm làm Trưởng Bộ môn năm 2005 thay ông ta.

2.      Đề tài đồng hướng (văn hóa Việt Nam) với tôi nhận từ Phòng Đào tạo nhưng quá hạn 4 năm không thực hiện được. Trong khi tôi hoàn thành và in thành sách còn Đỗ Bá Lộc đến lúc về hưu (2007) vẫn không có gì để nghiệm thu và phải trả lại tiền tạm ứng đề tài cho trường.

3.      Bị lật tẩy sự gian trá (vụ lập biên bản bí mật giữ lại chìa khóa các tủ đựng bài thi của sinh viên và tủ đựng văn phòng phẩm để rắp tâm làm việc xấu).

4.      Cay cú vì Học vị. Vì từ khi làm Giảng viên trường Đại học, Đỗ Bá Lộc chưa có một công trình khoa học nào được công bố trên tạp chí chuyên ngành, ngoài những thư nặc danh, đơn kiện tụng và bài báo bêu riếu đồng nghiệp. Ông ta giải thích cho việc một cán bộ giảng dạy đại học như ông cho đến lúc về hưu vẫn chỉ là Cử nhân Ngôn ngữ là vì không ai có đủ Tâm và đủ Tài hướng dẫn ông. Ông ta bộc bạch: ‘muốn tự học làm Tiến sỹ nhưng sao Nhà nước mình không cho phép!’.

5.      Cuối cùng, tôi và bạn bè tôi đều cho rằng Đỗ Bá Lộc là người thiếu nhân cách.

Ngẫm ra ở đời luôn có chuyện cười ra nước mắt: kẻ gian đổ vạ cho người ngay, kẻ vô học chê người có học, kẻ vô nhân cách lớn tiếng chửi người có nhân cách!

Tôi cảm ơn tất cả những ai đã nhọc lòng khi phải nghe, phải đọc, phải góp ý xung quanh câu chuyên về tôi. 

Mong bạn đọc thông cảm và chia sẻ về sự rủi ro của tôi cũng như những người liên quan đến tôi. Tôi không biết Dư luận xã hội hay Luật pháp sẽ giải quyết được chuyện này? Mong có được sự tư vấn của mọi người.